Phần 3 - Hành Trình Tư Tưởng Của Nhà Cách Mạng Phan Bội Châu - „Duy Dân“ trong VNQDĐCT




Hành Trình Tư Tưởng
Của Nhà Cách Mạng Phan Bội Châu

Phần 3
„Duy Dân“ trong VNQDĐCT

„Dân chẳng duy vật, dân chẳng duy tâm, dân chỉ duy dân“
(Phan Bội Châu)


Đọc VNQDĐCT (CT), ta thấy có bốn điểm lớn:

A.                 Nâng Dân sinh
B.                 Tăng Dân trí
C.                 Phục Dân quyền
D.                 Thực hiện nguyên tắc cộng sản

Như vậy, trong bản CT, ngoài kiến thức và kinh nghiệm riêng của Phan, có sự tổng hợp của hai hệ tư tưởng Tam dân và Cộng sản của các học giả Trung-hoa. Theo Jörgen Unselt

[1], các học giả này chủ yếu là Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) và Li Ta Chao. Vậy đâu là phần riêng của Phan, đâu là ảnh hưởng của các học giả ngoại quốc?
Trước hết, hãy khảo sát phần ảnh hưởng của Tôn vào tư tưởng „Duy Dân“ của Phan.
Chúng ta thường cô đọng thuyết của họ Tôn vào chữ „Tam Dân“. Đó là ba mục tiêu hay nguyên tắc đấu tranh của ông: Dân tộc (đề cao tinh thần dân tộc để giành độc lập), Dân quyền (Tự do, dân chủ) và Dân sinh (giải quyết các vấn đề xã hội để nâng cao phúc lợi). Đâu là lí do ra đời, và í nghĩa Tam Dân của họ Tôn ra sao?

1. Dân Tộc

Dân tộc Trung-hoa phải được giải phóng và độc lập. Đó là chủ trương đầu tiên của Tôn. Nhưng giải phóng khỏi ai? Thưa: khỏi tập đoàn cai trị nhà Thanh. Thanh nguyên là một bộ lạc thiểu số xa lạ từ miền bắc Trung-hoa, đã đánh đổ nhà Minh và cai trị toàn nước Tàu kể từ 1644. Người Hán (sắc dân đa số của Trung-hoa) từ đó vẫn coi Thanh như là bọn thực dân từ ngoài vào (thực sự nhà Thanh không hiểu tiếng Hán, và để cai trị đám Hán dân mênh mông này, Thanh đã ra một bộ luật vô cùng khắt khe – mà vua Gia-long đã đem vào áp dụng ở Việt-nam) và tâm tưởng lúc nào cũng mong cho triều đại này sụp đổ. Í thức chống đối này gia tăng kể từ giữa thế kỉ 19, khi nhà Thanh liên tiếp nhượng bộ các yêu sách bất công của các cường quốc phương Tây.
Một số nho sĩ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu thoạt tiên đề nghị con đường cải cách để đưa nước ra khỏi mối nhục, nhưng thất bại. Tôn Dật Tiên, một i sĩ đã sống ở Hoa-kì và thấm nhiễm văn hoá âu mĩ, lúc đầu cũng nghĩ tới con đường cải cách. Nhưng sau nhiều lần yêu sách bị từ chối, ông dứt khoát hô hào cách mạng đánh đổ Thanh triều. Cho tới khi hết thế chiến I (1918), Độc lập của Tôn có nghĩa là thoát khỏi ách nhà Thanh. Tuy nhiên, kết quả hội nghị Paris (1919) và Washington (1921/22) của các nước thắng trận đã làm ông thất vọng. Thay vì các nước này giải quyết vấn đề thuộc địa theo tinh thần dân tộc tự quyết như đã hứa, thì họ vẫn tiếp tục thừa nhận quyền lợi của nhau ở Tàu. Nguyên tắc độc lập của ông, đo đó, giờ đây được nối thêm một nội dung mới: thoát khỏi sự thống trị của tập đoàn đế quốc âu mĩ (tư bản).
Nhưng làm sao để làm được chuyện đó? Để kiến tạo và huy động sức mạnh cho công cuộc này, Tôn hô hào tinh thần dân tộc (nationalism) nơi tập thể Hán dân. Ông cho rằng đây là cội nguồn sức mạnh:
„Nếu ta không nỗ lực dấy lên tinh thần quốc gia và tập hợp 400 triệu dân Trung-hoa vào trong một quốc gia vững mạnh, thì ta sẽ gặp thảm nạn: mất nước và mất nòi. Muốn thoát đại họa đó, phải khơi dậy tình tự quốc gia và dùng nó để cứu nước“ (tất cả những câu trích, nếu không có ghi chú khác, đều lấy từ Hsu Chi Wei). [2]
Tôn đặt quan tâm lớn trong việc hô hào tình tự quốc gia. Và sách vở phương Tây, khi đề cập tới nguyên tắc Độc lập của Tôn, thì cũng xoay quanh việc diễn dịch chữ nationalism.

Phan Bội Châu không gặp khó khăn trong việc xác định kẻ thù như họ Tôn. Kẻ thù duy nhất ở Việt-nam, theo ông, là bộ máy chính quyền (bảo hộ) thực dân. Nên nhớ, chỉ là chính quyền bảo hộ, chứ không phải toàn thể nước Pháp. Phan đã rất sáng suốt trong nhận định này. Ở điểm này, Bội Châu cũng khác quan điểm với người đồng chí Phan Chu Trinh: Ông không coi vua quan Nam triều là kẻ thù cần đưa vào cương lĩnh. Chu Trinh căm giận vua quan Việt, sẵn sàng dung túng thực dân để dùng nó ưu tiên đánh đổ nền quân chủ. Bội Châu, trái lại, xem vua quan Nam triều chỉ là một thứ bù nhìn; giật sập bộ máy bảo hộ là bù nhìn đương nhiên đổ. Văn thơ của Bội Châu từ đầu chí cuối ngút ngàn với những lời hô hào lòng yêu nước và tình tự dân tộc, bằng cách ca ngợi những trang sử oanh liệt, các chiến công hiển hách, các gương hi sinh của những anh hùng liệt nữ xưa và nay.
„Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta (Ái quốc ca)
Vậy mà – khác hẳn với Tôn - Phan đã bỏ qua, không đưa nguyên tắc Dân tộc vào cương lĩnh của mình. Như thế, phải chăng ông coi Dân tộc là một lí đương nhiên trong cuộc đấu tranh, hay xem như nó đã tiềm sẵn nơi dân mình rồi?
Thay vào đó, Phan đưa Dân trí vào như một nguyên tắc quyết định. Đây là điểm khác biệt giữa „Tam Dân“ của Phan và Tôn. Có Dân trí là có tất cả. Khi so sánh tư tưởng giữa Bội Châu và Chu Trinh, người ta thường cho rằng Dân trí và Dân quyền là sản phẩm đặc thù của Chu Trinh, chứ không phải của Bội Châu. Thực tế không hẳn như vậy. Dân trí đã được Bội Châu quan tâm ngay từ đầu. Trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (1904), lá thư khiến một anh đồ vô danh trở thành biểu tượng đấu tranh, và qua nó, đã nối kết Phan lại với các hào kiệt ba miền, Phan đưa ra ba liều thuốc cấp cứu:  1. Mở trí khôn cho dân, 2. Tăng hoạt dân khí, 3. Vun trồng nhân tài [3]. Hãy xem con bệnh sĩ khí Việt-nam lúc đó:
„Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình (tầm) thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dù có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết… Cái tệ ấy buổi đầu là do tính tình nhu nhược, theo mãi, hoá ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản mà không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại…
Các nước Thái tây đâu có hạng người gỗ đá như thế! U mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế!... Thay đổi học thuật lập ra quy chế mới thì không khỏi làm cho họ khiếp thấy ngại nghe. Mở mang trí tuệ, họ cho là hiếu kì; sửa đổi cho hợp thời, họ cho là trái cổ…[4]
Do đâu mà sĩ khí bạc nhược như vậy? Thưa là vì dân trí thấp. Dân trí như thế thì làm sao có được nhân tài, làm sao biết đến Dân quyền? Nguyên tắc Dân trí của họ Phan trong CT là vị chính của ba liều thuốc trên. Chìa khoá cứu nước trước hết là Dân trí. Phan khẳng định: „Giáo dục là sinh mệnh của đất nước[5]. Cái hay nơi Phan là ông chủ trương bình dân hoá, phổ thông hoá việc học. Đây cũng là chủ trương „Giáo chi“ và „hữu giáo vô loại“ (trong giáo dục không có phân biệt giai cấp. Luận Ngữ XV.38) của Khổng-tử. Như vậy, nguyên tắc Dân trí hẳn không phải là sản phẩm của „Tam Dân“, mà là kết quả học hỏi của Phan qua gia sản nho học, qua kinh nghiệm Nhật, qua trao đổi với Lương Khải Siêu, qua sách vở, đặc biệt qua cuốn sách của Lương Khải Siêu Ý Đại Lợi Tam Kiệt Truyện [6].
 Mà nói cho ngay, gần như toàn bộ văn liệu Phan vắt óc vắt gan viết ra suốt cả cuộc đời cũng là cho mục tiêu nâng cao Dân trí. Toàn bộ cuộc vận động của các chí sĩ Duy tân trong nước thời đó cũng là cho mục tiêu đó.  Toa thuốc của họ Phan hơn 100 năm trước tới nay vẫn không mất tính thời sự.[7]

2. Dân Chủ

Trong bài nói chuyện ngày 17.06.1916 họ Tôn đưa ra hình ảnh: Kĩ thuật làm nhà của Tàu khác Tây. Tây đổ móng rồi mới dựng nhà, còn Tàu trái lại, dựng cột kèo trước khi đắp nền. Và ông cho lối làm của Tây là đúng: làm gì cũng phải đi từ căn bản mà lên; nền móng là căn bản, bảo đảm cho toàn bộ căn nhà. Và nền móng của quốc gia là gì, nếu không phải là Dân! Như vậy, mọi quyết định đều xuất phát từ dân. Dân phải là chủ.
Cũng theo họ Tôn, thế giới ngày nay đang bước vào kỉ nguyên Dân chủ; sau hơn 2000 năm vận hành kể từ khi triết gia Hi-lạp Aristoteles khởi xướng, tư tưởng và thể chế chính trị dân chủ ngày nay đang toàn thắng, không có gì có thể cản ngăn bước tiến của nó. Dân chủ, đối với Tôn, đồng nghĩa với chế độ cộng hoà. Ông say mê khuôn mẫu Hoa-kì và Thuỵ-sĩ, trong đó người dân có quyền bầu, kiểm soát và bãi miễn người đại diện, có quyền đưa đề nghị và trưng cầu í kiến. Tôn nói tới „ngũ quyền“. 5 quyền này trong CT của Phan gồm: lập pháp trực tiếp, tư pháp gián tiếp, hành chánh (hành pháp) gián tiếp, kiểm soát trực tiếp và lập hiến trực tiếp. „Tam Dân“ của Tôn dùng Dân chủ -chứ không phải Dân quyền - làm đề mục. Nhưng theo Tôn hiểu, thì Dân chủ, Dân quyền, Tự do, Bình đẳng (hai khẩu hiệu sau của cách mạng Pháp) thật ra là một, chúng không thể tách rời nhau, như ông đã viết trong bài thuyết trình ngày 23.03.1924:
„Hơn 100 năm nay, Âu châu tranh đấu cho hai mục tiêu đó (Tự do, Bình đẳng), song rốt cuộc kết quả cũng là Dân chủ. Chỉ khi nào người dân chiếm hữu được Quyền của mình, lúc đó Tự do và Bình đẳng mới có cơ may tồn tại. Không có Dân chủ, Tự do và Bình đẳng chỉ là sáo ngữ“ (xem Hsu Chi Wei).

Cũng cổ xuý cho Dân chủ, nhưng trong CT họ Phan lại dùng í niệm Dân quyền để làm đề mục. Theo ông, Dân quyền mới đúng là nền tảng. „Quyền dân là trên hết“ (CT). Muốn làm chủ thì phải có quyền. Phan nói tới Dân quyền rất sớm. Trong Tân Việt Nam (1907) ông viết:
Cái nọc độc chuyên chế của bọn người hại dân ấp ủ đã hàng ngàn năm nay từ bên Trung Quốc lây sang nước ta, đến nỗi một tên độc phu (vua) và vài vạn kẻ dung nhân (quan) làm cá làm thịt trăm họ dân ta. Thế mà dân ta ngu ngốc khờ dại, không biết giành dân quyền, giữ quốc mệnh, chỉ ngày đêm lo hết lòng hết sức đem máu mỡ của mình cung đốn cho bọn độc phu, dung nhân uống nuốt!“[8].
Tư tưởng Dân quyền, trước Tân Việt Nam một năm, Bội Châu cũng đã được Chu Trinh khẩn thiết nhắc nhở, khi hai người vừa sang Nhật. Sau khi tham quan các học đường và khảo sát những công việc chính trị giáo dục ở Đông-kinh, Chu Trinh nói với Bội Châu:
Trình độ dân Nhật Bản như thế, mà trình độ dân ta như thế, không nô lệ làm sao được! (…) Từ nay (ông) nên lưu (lại) Đông (kinh) yên nghỉ, chăm việc làm sách (…). Chỉ nên đề xướng dân quyền, đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được[9].
Có lẽ Chu Trinh (và cả Bội Châu) đã học được í niệm Dân quyền từ các tân thư của các tác giả Âu Mĩ qua ngã các bản dịch chữ Hán.
Một điểm lạ nữa là Bội Châu nêu lên sự bảo đảm tự do phát biểu Dân í như là điều kiện của Dân quyền. Có nghĩa là ông coi tự do ngôn luận (mà cũng thể hiện qua tự do bầu cử ứng cử) là thành tố cao nhất của Dân quyền. Điểm này tới ngày nay vẫn đúng. Chỉ khi tự do ngôn luận được bảo đảm thì mới có thể bàn tới những tự do khác.
Cổ xuý Dân chủ, Tự do theo mẫu Tây phương, nhưng họ Tôn đồng thời hô hào hạn chế tự do. Bởi theo ông, tuy sống trong chính thể quân chủ, dân Tàu đã có quá nhiều tự do, và cũng vì quá tự do nên dân Tàu thiếu đoàn kết. Thành ra ông nhấn mạnh về một giai đoạn độc tài hậu chiến, trong đó sẽ dùng Đảng để huấn chính, hướng dẫn dân bỏ thói cũ, tập quen với nếp sống mới. Ông viết trong bài thuyết trình tháng 11.1920:
Hành động giải thoát nô lệ của tổng thống Lincoln là một nghĩa cử lớn. Lẽ ra nô lệ phải biết ơn ông, nhưng đàng này rốt cuộc họ lại coi ông là kẻ thù và giết ông. Họ đổ lỗi cho ông là đã phá nếp sống của họ. Điều này chứng minh rằng, bỏ một thói quen lâu đời không phải là chuyện dễ… Hệ thống nô lệ ở Tàu đã có từ hàng ngàn năm nay. Mặc dầu chính thể cộng hoà đã hiện hữu được 9 năm, nhưng nếp sống quần chúng vẫn khập khễnh, chưa biết đi đứng như thế nào cả. Muốn đưa họ vào nề nếp, phải cần biện pháp mạnh. Chẳng có chọn lựa nào khác. Phải dựng họ dậy, dạy bắt họ vào khuôn phép“.
Chủ trương „độc tài đảng trị giai đoạn“ này họ Tôn không học ở Lê-nin, nhưng do kinh nghiệm chính trị, đặc biệt là kinh nghiệm hậu cách mạng Tân hợi (1911): vì Đồng Minh Hội của ông quá ô hợp và thiếu nhất quyết, nên đã không giữ được quyền mà phải trao lại cho Viên Thế Khải, và ông này sau đó đã chủ trương diệt các chính đảng, khiến Tôn và các đồng chí phải chạy sang Nhật.
 Phan Bội Châu cũng chia sẻ chủ trương cứng rắn giai đoạn trên. Tuy nhiên trong CT, ông đề cập vai trò chủ động của Đảng trong thời hậu giải phóng một cách nhẹ nhàng, không nhấn mạnh vai trò áp chế như trong cương lĩnh của Trung-hoa Quốc Dân Đảng của Tôn. Tôn chia ra 3 thời kì: Quân chính, Huấn chính và Hiến chính; trong hai giai đoạn đầu, Đảng không ngần ngại dùng chuyên chính để trị nước huấn dân. Cương lĩnh Thể Giao (1927) của Việt-nam Quốc Dân Đảng (Nguyễn Thái Học) lấy lại ba điểm này của QDĐ Trung-hoa. Đọc văn liệu của Phan, ta thấy ông rất chuyên chính với thực dân Pháp, nhưng lại có khuynh hướng từ chối chủ trương độc tài, độc đoán như ta sẽ thấy rõ hơn khi tìm hiểu quan niệm „cộng sản“ của ông.
Lối dân chủ trực tiếp trong CT: Bầu đại biểu từ xã lên huyện, tỉnh, quốc gia và đại biểu các ngành nghề từ địa phương lên trung ương là một mô thức dân chủ lí tưởng. Ngày nay, ta có thể nghi ngờ sự khả thi của mô thức đó và có thể thắc mắc về các điều kiện bầu phiếu và việc phân chia đại biểu ngành nghề. Song đây là một suy tư đáng kể của Phan trong việc đi tìm một phương thức đại diện thật dân chủ, công bằng, hoàn hảo.

3. Dân Sinh

Trong cuốn Nhật Kí Một Nhà Cách Mạng Trung-hoa, Tôn Dật Tiên kể, năm 1896 ông trở lại Âu châu hai năm để học hỏi phong tục, lề lối sinh hoạt chính trị và làm quen với các chính trị gia. Ông nghe, thấy và học được nhiều. Tuy nhiên, ông nhận thấy rằng, dù Âu châu hưng thịnh và dân quyền ở đây rất được bảo đảm, vậy mà vẫn có nhiều người gia nhập các phong trào cách mạng xã hội. Điều đó đưa ông tới kết luận: sự thịnh vượng của quốc gia và sự phát triển dân quyền chưa đủ để kiến tạo hạnh phúc cho dân. Muốn dân hạnh phúc, chính quyền phải song song giải quyết các vấn đề xã hội. Nghĩa là nhà nước phải trở thành một nhà nước phúc lợi. Thuyết Dân sinh của ông nẩy mầm từ đó. Dân sinh cũng được Tôn gọi là chủ nghĩa xã hội; nó là tất cả „xã hội chủ nghĩa“ của Tôn.
Nguồn gốc các vấn đề xã hội của Âu châu thời đó là con ma Tư bản, là hậu quả của cách mạng kĩ nghệ. Sau cách mạng kĩ nghệ, người bị máy móc thay thế, công nhân hoặc rơi vào thất nghiệp hoặc trở thành nô lệ cho máy móc. Sản xuất tăng nhanh, lợi nhuận đổ dồn vào các nhà tư bản: khoảng cách giàu nghèo mở lớn. Kinh tế dần trở thành độc quyền của một thiểu số tư bản. Những người này nắm luôn cả hệ thống đường rầy xe lửa, điện khí, đại kĩ nghệ sắt thép… Bất công xã hội tràn lan, đè nặng trên đa số dân chúng.
Để ngăn chặn kịp thời thảm cảnh đó tại Tàu, Tôn đề ra hai giải pháp: „chủ nghĩa xã hội nhà nước“ và cải cách ruộng đất.
Chủ nghĩa xã hội nhà nước có nghĩa là nhà nước phải nắm giữ những ngành kinh tế trọng yếu như hệ thống giao thông, điện lực, sắt thép v.v., không để cho tư bản tư nhân độc quyền (Đây là phương thức của thủ tướng Bismarck nhằm chống lại áp lực mạnh mẽ của khuynh hướng mác-xít ở Đức thời đó). Ngoài ra, ông không chủ trương cào bằng xã hội (như cộng sản chủ trương), nhưng đòi buộc nhà nước phải có biện pháp phân phối đồng đều và phải bảo đảm cơ hội đồng đều cho người dân.
Còn cải cách ruộng đất có nghĩa là phải ban hành một chính sách thuế điền địa thích hợp nhằm tăng quỹ ngân sách quốc gia và ngăn cản đất đai rơi vào tay một thiểu số đại điền chủ. Họ Tôn không chấp nhận con đường bạo lực cách mạng trong việc giải quyết vấn đề kinh tế và ruộng đất. Lối ăn cướp, chém giết, tập thể hoá như ở Nga, theo ông, không mang lại thành quả. Chính trị mới là phương cách giải quyết ổn thoả mọi vấn đề.
Và đặc biệt, với Tôn, Dân sinh mới là lực quyết định tiến trình lịch sử, chứ không phải kinh tế, như Mác chủ trương. Ông viết trong bài thuyết trình ngày 03.08.1924:
Mới đây, ông William, một môn đồ của Marx người Mĩ, sau khi nghiên cứu tường tận thuyết của thầy, đã kết luận rằng chuyện bất đồng giữa những người cộng sản bắt nguồn ngay từ những sai lầm của học thuyết Marx. Ông ta cho rằng Duy vật sử quan của Marx là sai, rằng lực chính điều khiển sự vận hành lịch sử là vấn đề xã hội, chứ không phải kinh tế, và sự sinh tồn (subsistence) là vấn đề xã hội quan trọng nhất. Dân sinh là vấn đề sinh tồn. Quan điểm của học giả William trùng hợp với chủ trương thứ ba của Đảng chúng tôi. Với William, ta thấy Dân sinh là lực trung tâm của tiến trình xã hội và tiến trình xã hội lại là lực chính của lịch sử; chính sự đấu tranh cho sinh tồn, chứ không phải yếu tố kinh tế, mới là lực điều hướng lịch sử“.
Hẳn Phan cùng quan điểm với Tôn, coi xã hội là một vấn đề rất quan trọng. Nhưng khác với Tôn, ông đặt Dân sinh (sự sinh tồn của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc của dân) lên vị trí đầu trong 4 mục của CT. Phan suốt đời quanh quẩn ở các nước đông Á (Trung-hoa, Thái-lan, Nhật) đã không chứng kiến tận mắt các khủng hoảng trong các xã hội kĩ nghệ tây phương, nên không đề cập tới những nguy cơ tương lai như Tôn. Dân sinh ở Việt-nam, đối với Phan, là giải quyết những vấn đề thực tế của một nước nông nghiệp như: chính sách ruộng đất, kế hoạch khai thác và phát triển nông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho mọi người, thúc đẩy dân khai khẩn đất hoang, các biện pháp bảo vệ người lao động, các chương trình huấn nghệ v.v.. Cũng như Tôn, ông chủ trương nhà nước mua lại đất tư rồi phân phát lại cho dân, chứ không dùng biện pháp tịch thu và tập thể hoá như Bôn-xê-vích đã làm.
Dân sinh của Phan cũng không hẳn là một mô phỏng Dân sinh của Tôn. Nó không là gì khác ngoài nguyên tắc „Phú chi“ của Khổng Mạnh. Không có triết gia nào tha thiết về vấn đề làm giàu dân bằng Mạnh-tử: „Dân khả sử phú dã“ (Mạnh-tử, VIIa,23). Dân có giàu thì nước mới mạnh. Và tất cả triết lí chính trị của Nho giáo đặt trên nguyên tắc căn bản sau: „Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân“ (không lo ít của cho bằng lo chia của không đều. Luận Ngữ XVI.1). Cái tinh thần Dân sinh khổng mạnh đó (cố gắng chia đều cơ hội và của cải, giúp dân làm giàu và hạnh phúc) ta thấy hiện lên rõ nét trong bản CT.

 Dân chẳng duy vật, dân chẳng duy tâm, dân chỉ duy dân“, đó là nhận định của họ Phan. Cả ba mục tiêu Dân sinh, Dân quyền và Dân trí, tắt lại, đều phục vụ và nhằm thăng tiến cho một chữ Dân. Rải rác trong các văn liệu, Phan Bội Châu đề cập rất nhiều tới chữ Dân và không ngớt hô hào í thức về nó. Vì thế, ở đây tôi muốn khai triển về một thứ chủ nghĩa „Duy Dân“, chứ không đặt nặng „Tam Dân“ nơi ông. Trong ba yếu tố công pháp (Dân, Đất, Chính quyền) hình thành nên quốc gia, Phan coi Dân là nền tảng. „Dân là sinh mệnh của nước“. [10] Dân là hồn của nước [11]. Chức Dân quan trọng như thế, nhưng sở dĩ lâu nay dân ta thiếu í thức về nó, là vì sự kìm giữ của truyền thống khổng giáo: vua quan vốn coi Dân là cỏ rác, trong khi Dân thì chẳng biết mình có chút quyền gì cả, chỉ biết cam tâm làm kiếp „gia nô“:
„Một là vua sự Dân chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết gì Dân
Ba là Dân chỉ biết Dân
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai[12]
Hay
Xem lịch sử nước ta từ xưa đến nay hơn ba nghìn năm chỉ có gia nô mà không có quốc dân thật. Quyền vua quá nặng (…), gia dĩ quyền quan lại hấng đỡ quyền vua mà tầng tầng áp chế (…). Thằng này là con ngưạ, thằng nọ là con trâu, buộc cương vào thì cắm cổ cứ đi, gác ách vào thì cắm đầu cứ lủi (…); phận con hầu thằng ở, được đôi miếng cơm thừa canh thải, thì đã lấy làm hớn hở vinh vang; tối tăm đứng đầu ruộng mới được bát cơm ăn, suốt đêm ngồi trên bàn khung cửi mới được tấm áo mặc, mà thoạt mở miệng ra thì chỉ nói rằng „cơm vua áo chúa“, đồng tiền này, sông núi nọ, mồ hôi lẫn nước mắt mà cày cấy, mở mang; nhưng mà „chân đạp đất vua“ lại giữ chặt một hoạt kê vô lí. Than ôi! Cái tư tưởng gia nô, cái trí thức gia nô! Bệnh gia truyền làm nô đó không biết tự bao giờ để lại cho chúng ta, bắt ta phải gông đầu khoá miệng, xiềng tay xiềng chân, mà chịu gánh gia nô cho già đời mãn kiếp! Đau đớn thật! Thảm hại thật! [13]
Thời quân chủ đã vậy. Đến lượt cộng sản về thì cũng lại phải răm rắp „ơn Bác ơn Đảng“, „nhờ Bác nhờ Đảng“!
Vì thế, nâng Dân trí, vực Dân khí và hô hào tự do ngôn luận để Dân quyền được bảo đảm của Phan Bội Châu đưa ra 83 năm trước cũng là những toa thuốc thần để xoá kiếp gia nô, đưa dân tộc Việt-nam ngẩng cao đầu nhận ra lại chỗ đứng và vai trò quốc dân, công dân cao trọng và xứng đáng của mình.

Augsburg, tháng 9.2007
(Kì tới: Tư tưởng „Cộng Sản“ trong VNQDĐCT)


[1] Jörgen Unselt, Sun Yat Sen in the Perspective of Phan Boi Chau’s Vietnamese National Revolutionary Mouvement. Đăng trong Gottfried-Karl Kindermann (de.), Sun Yat Sen, Founder and Symbol of China’s Revolutionary Nation-Building. Vol. 1, München & Wien, 1982.
[2] Hsu Chi Wei, The Influence of Western Political Thought and Revolutionary History on the Goals and Self-image of Sun Yat Sen and the  the Republican Revolutionary Mouvement in China. Đăng trong Gottfried-Karl Kindermann (de.), Sun Yat Sen, Founder and Symbol of China’s Revolutionary Nation-Building. Vol. 1, München & Wien, 1982.
[3] Phan Bội Châu, Tự Phán, Nhân Chủ học xã, USA 1987, trang 48 tt; Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Trong Phan Bội Châu Toàn Tập, tập 1, trang 143 tt.
[4] Lưu Cầu Huyết Lệ… Trong Phan Bội Châu, Toàn Tập, tập 1, trang 145.
[5] Vấn Đề Quốc Dân Giáo Dục, Trong Toàn Tập, tập 4 trang 253 tt.
[6] Xem Phan Bội Châu, Tự Phán, sđd, trang 90.
[7] Xem thêm Hà Sĩ Phu, Tư Tưởng Và Dân Trí Là Nền Móng Xã Hội và bài Cuộc Dằng Co Về Dân Chủ Còn Kéo Dài, trong http://www.hasiphu.com/baivietmoi.html
[8] Tân Việt Nam, trong Toàn Tập, tập 2, trang 255.
[9] Phan Bội Châu, Tự Phán, sđd, trang 87.
[10] Vấn Đề Quốc Dân Giáo Dục, trong Toàn Tập, tập 4, trang 254.
[11] Cao Đẳng Quốc Dân, Toàn Tập, tập 4, trang 99.
[12] Hải Ngoại Huyết Thư, Toàn Tập, tập 2, trang 228.
[13] Cao Đẳng Quốc Dân, đả dẫn, trang 100.

Phần 4: Hành Trình Tư Tưởng Của Nhà Cách Mạng Phan Bội Châu - „Cộng sản“ trong VNQDĐCT



Hành Trình Tư Tưởng
Của Nhà Cách Mạng Phan Bội Châu


Phần 4
„Cộng sản“ trong VNQDĐCT


Gió giận thổi tan tành đế quốc,
Lửa thù thiêu đứt khoá cường quyền.
Cuộc Âu Á nhào xáo biết bao phen.
Mà cơ hội phen này thêm mới, mới,
Cờ cách mạng Viễn đông bay phất phới,
Sóng nhân quyền hoàn hải dậy đùng đùng.
Nga-la-tư vừa dựng nước Lao công,
Toàn thế giới bóng cờ hồng lấp loá.
Hoa với Việt xưa nay huynh cập đệ,
Quyết dắt (được) nhau hộ vệ Á đông mình.
Nền thực dân e đến lúc tan tành,
Vườn nhân đạo thênh thang trời bể trông (rộng?),
Khắp thế giới biết bao người lao động,
Người như ta ai cũng biểu đồng tình.
Trận chiến tranh giai cấp đã rành rành,
Duy vô sản đấu tranh cùng hữu sản.
Rằng cừu địch chỉ mấy nhà tư bản,
Còn lao công ai cũng tán thành ta.
Nếu anh em chiếm đắc nhân hoà,
Thời địa lợi thiên thì là của sẵn (…)

Đó là 20 câu đầu của bài Mừng Cơ Hội [1], tất cả 51 câu, đăng trong Chủng Diệt Dự Ngôn, được Phan Bội Châu sáng tác có lẽ không lâu sau khi đọc (năm 1920) cuốn Nga-la-tư Chân Tướng Điều Tra Kí của một tác giả Nhật nói về biến cố tháng 10 Nga [2], đó là thời điểm có lẽ Phan cũng đã chứng kiến (ít ra trên sách báo) những biến động chính trị ở Tàu (sinh viên biểu tình, dân tẩy chay hàng hoá Nhật) trong những năm sau khi thế chiến I kết thúc. Phan bắt đầu biết tới cộng sản /xã hội chủ nghĩa (trong bài này, hai từ này được dùng với nội dung như nhau) từ khi đọc sách đó. Cuối 1920, qua giới thiệu của Thái Nguyên Bồi, viện trưởng Đại học Bắc-kinh, ông tìm gặp hai đại diện cộng đảng Nga đang có mặt ở Bắc-kinh để biết thêm về „chân lí cộng sản“. Nhưng ông đã không biết thêm gì về chủ nghĩa từ hai nhân vật này; nội dung câu chuyện chỉ xoay quanh mấy điều kiện nhận du học sinh. Đại diện Nga cho biết sẵn sàng nhận nuôi ăn học cho sinh viên Việt với điều kiện sau đó phải theo cộng sản và tuyên truyền cho chủ nghĩa này. Quan hệ cắt đứt từ đó, vì ông sớm nhận ra „sự xảo quyệt của người Nga [3].
Chuyện Phan không làm, đồng hương của ông là Nguyễn Tất Thành đã làm. Là vì chính ngay khi Phan đang gặp người Nga ở Bắc-kinh, thì tại đại hội Tours ở Pháp (12.1920), Thành dơ tay tuyện thệ nguyện xin được làm đầy tớ trung kiên của chủ nghĩa vô sản.
Cùng ưu tư đi tìm một giải pháp cho đất nước, cùng hồ hởi khi gặp một lí thuyết tưởng có thể mở ra vận hội mới cho dân tộc, Phan và Thành đã có hai chọn lựa khác nhau trước một vấn nạn quyết định. Chọn lựa đó nói lên cái trí và cái tâm của mỗi người.
Không trực tiếp tìm hiểu được chủ nghĩa cộng sản với người Nga, Phan tìm đọc qua sách báo. Qua đoạn thơ trên, ta thấy ngoài nỗi hào hứng với biến cố tháng 10 Nga, Phan còn tin vào mối liên đới Hoa-Việt trong cuộc cách mạng vô sản sắp tới:
Hoa với Việt xưa nay huynh cập đệ
Quyết dắt nhau hộ vệ Á đông mình
Cũng trong Chủng Diệt Dự Ngôn, Phan khai triển thêm í đó:
„Lịch sử nước ta đối với Tàu trải mấy nghìn năm, theo về địa lí thời đã liền núi liền sông, theo về nhân chủng thời lại đồng xương đồng thịt. Gần mấy năm nay, phong trào cách mạng từ bắc qua nam nào là phản đối tư bản gia, nào là phấn đấu với đế quốc chủ nghĩa, người Hoa rất biểu đồng tình với người Việt, mà người Việt cũng rất tín ngưỡng với người Hoa…[4]
Điều này có nghĩa là lúc Phan viết Chủng Diệt Dự Ngôn, „phong trào cách mạng“ (cộng sản) đã rộ dậy ở Tàu. „Phong trào cách mạng“ Phan nói tới ở đây có lẽ chủ yếu là trên bình diện sách báo, chứ không phải là những hoạt động thực tế của Đảng cộng sản. Bởi vì, vào năm 1921, khi Li Ta Chao, quản lí thư viện Đại học Bắc-kinh, thành lập Đảng Cộng Sản Trung-hoa, thì số đảng viên của đảng này có rất ít [5]. J. Unselt cho rằng, Phan chịu ảnh hưởng tư tưởng của Li trong giai đoạn đầu tiếp cận chủ nghĩa cộng sản, bởi vì lí thuyết gia năng nỗ và nổi tiếng nhất về chủ nghĩa cộng sản ở Tàu lúc đó không ai ngoài Li. Trong tập Xã Hội Chủ Nghĩa viết về sau trong thời gian bị quản thúc tại Huế (1925-1940), Phan cho hay muốn hiểu chủ nghĩa này một cách chính thống thì nên tìm hiểu thẳng từ Marx và Tôn Trung Sơn; ông coi Tôn là một thứ Mạnh-tử của Marx [6]. Trong văn liệu hiện có của Phan, không thấy ông đề cập tới Lí Ta Chao. Có thể vì nhu cầu thực tế: phần vì thích thuyết tam dân ngũ quyền của Tôn, phần vì muốn có sự giúp đỡ của Tôn, lúc đó vừa là một nhà lí thuyết cách mạng nổi tiếng, một chính trị gia có quyền và là người thành lập Đồng Minh HộiTrung-hoa Quốc Dân Đảng, nên Phan đã dồn tâm trí vào nhân vật này. Sách Xã Hội Chủ Nghĩa cho thấy Phan nắm khá vững nội dung chủ nghĩa. Trong sách, ông dành ra một tiết (tiết 14) trình bày học thuyết xã hội chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn; học thuyết này chủ trương chính quyền phải được tiếp tục hiện hữu sau khi cách mạng thành công, chứ không tin rằng chính quyền sẽ biến mất như các lí thuyết gia xã hội chủ nghĩa không tưởng chủ trương.
Không hiểu Phan chịu ảnh hưởng của Li tới mức nào. Tuy nhiên, vì là một khuôn mặt tinh thần lớn của giai đoạn đó, nên ta cũng cần biết đôi chút về Li và cảnh huống chính trị của Tàu lúc đó.

Li Ta Chao và phong trào cộng sản Tàu

Li Ta Chao (1889-1927) sang Nhật năm 1913 theo học môn chính trị. Tại đây ông có dịp tìm hiểu rất sớm chủ nghĩa cộng sản. Ông là một trí thức viết khoẻ, viết hay và đầy tình tự dân tộc. Các bài viết luận về triết lí cũng như hô hào chính trị đã cuốn hút các tầng lớp dân Tàu. Về mặt đấu tranh chính trị, có thể so sánh vai trò và uy tín của ông đối với trí thức Tàu tương đương với vai trò và uy tín của Phan đối với dân Việt.
Năm 1918, Li cho đăng Cuộc Chiến Thắng Của Bôn-xê-vích, một bài viết quan trọng trình bày nhận thức và niềm tin của mình vào sự tất thắng của chủ nghĩa mác-lê. Ông cho rằng thế giới ngày nay đang chuyển thành một thế giới lao động, và cuộc đấu tranh giai cấp (mà lực lượng quyết định sẽ là nông dân và công nhân) là tất yếu, đó là động lực quyết định sự phát triển kinh tế. Theo ông, tin vào sự phát triển kinh tế mà không tin vào đấu tranh giai cấp, là nói láo.
Tóm lại, Li xác tín hoàn toàn vào những định đề của chủ nghĩa mác-lê.
Cùng năm 1918, Li được mời về làm quản thủ thư viện Đại học Bắc-kinh. Tại đây, ông gây phong trào quảng bá chủ nghĩa cộng sản nơi tầng lới trí thức sinh viên bằng cách lập các học hội: „Học hội lí thuyết xã hội chủ nghĩa“ (12.1919), „Hội học lí thuyết Mác“ (03.1920). Mao Trạch Đông, lúc đó là nhân viên thư viện, là một trong những hội viên nhiệt tâm của „Hội học lí thuyết Mác“ và hội này là tiền thân của Đảng Cộng Sản Trung-hoa.
1918 cũng là năm diễn ra hội nghị Versailles, Paris kết thúc thế chiến I. Tàu chờ đợi trong phập phồng hi vọng các nước thắng trận giải quyết các bất công của mình. Nhưng khi Anh, Hoa-kì, Pháp đồng í cho Nhật tiếp tục giữ thuộc địa và quyền lợi ở Tàu thì từ Đại học Bắc-kinh sinh viên dấy lên biểu tình chống quân phiệt Nhật, chống đế quốc phương tây (Li gọi Anh, Hoa-kì, Pháp là „một lũ ăn cướp“), chống tay sai thân Nhật trong chính quyền. Biểu tình chống đối lan rộng ra các đại học. Suốt một năm dài, sản phẩm hàng hoá của Nhật bị dân Tàu tẩy chay. Sử gọi là „Phong trào mồng 4 tháng 5 năm 1919[7]. Phong trào nhiễm màu quốc gia chủ nghĩa, được khơi dậy do nhóm giáo sư Đại học Bắc-kinh. Nó đóng góp tích cực cho việc quảng bá tư tưởng cộng sản, tạo đà cho Li thành lập Đảng cộng sản năm 1921 tại Thượng-hải. Một sự kiện khiến trí thức tàu càng có cảm tình với cách mạng vô sản là ngay sau khi thế chiến kết thúc, Nga đã nhanh nhẩu tự nguyện từ bỏ mọi đặc quyền thuộc địa của mình ở Tàu.
Sau khi lập đảng, Li bắt tay với Tôn (1922) [8]. Hai đảng Cộng Sản (ĐCS) và Quốc Dân (QDĐ) từ hợp tác đi tới thống hợp. Đại hội QDĐ Trung Hoa (01.1924) đưa thêm vào cương lĩnh ba điểm: Liên minh với Nga, hợp tác với Cộng sản và yểm trợ khối công nông. Cuộc hôn nhân đẻ ra định chế „quân uỷ“ (chỉ huy lực lượng quân sự) và trường quân sự Hoàng-phố. Nga điều Borodine sang làm cố vấn cho Tôn. Tôn quen với ông này hồi còn tị nạn (trốn Thanh triều) ở Hoa-kì. Borodine giúp QDĐ tổ chức lại mọi mặt theo khuôn mẫu Đảng Cộng sản Nga. Đối lại, Tôn gởi Tưởng Giới Thạch sang Moskau 3 tháng học cách quản trị cộng sản. Hồ Chí Minh, dưới lốt thông dịch viên, được lệnh theo Borodine sang làm nhiệm vụ quốc tế đặt đầu cầu cộng sản ở Đông dương. 
Cuộc hôn nhân quốc cộng cũng là khởi nguồn của sự thảm bại của phía quốc gia. Trên lí thuyết, từng cá nhân đảng viên cộng sản phải gia nhập vào QDĐ. Thực tế thì đấy là cơ hội để cộng sản khuynh loát, bởi vì họ tổ chức chặt chẽ hơn, mục tiêu của họ hoàn toàn không đi đôi với QDĐ và nhất là cơ cấu cộng sản đã không tự giải thể theo quy ước, mà trái lại họ vẫn âm thầm bành trướng để rồi như mầm ung thư đưa QDĐ vào bế tắc.

„Cộng sản“ Phan Bội Châu

Phong trào 04.05.1919 ở Tàu giúp Phan nhận rõ hơn bản chất thực dân của Nhật. Bản chất nguy hiểm này cũng là một trong những lí do khiến Phan viết Pháp Việt Đề Huề Luận Văn vào năm 1918 [9].
Cũng từ bối cảnh 04.05.1919 (chống Nhật, chống „đế quốc“ Anh, Pháp, Hoa-kì...) mà Phan nặng tình hơn với chủ nghĩa cộng sản. Sự nặng tình này càng tất nhiên hơn khi ông chứng kiến cuộc hôn nhân giữa QDĐ và Cộng sản Tàu.
Phan Bội Châu ngả theo cộng sản. Thế tại sao Đảng Cộng sản Việt-nam trong bao năm đã không khai thác được quan điểm này của nhà đại cách mạng để tuyên truyền?
Phải chăng vì ông đã bị họ kết án là kẻ thoả hiệp đầu hàng, khi ông viết Pháp Việt Đề Huề Luận Văn? Việt cộng đánh giá tài liệu đó là bản án tử cho ông. Nhưng theo Phan:
„Khi hai dân tộc vì một lẽ nào đó xui khiến mà phải sống bên nhau trên một miếng đất, thì chỉ có hai cách cư xử với nhau: hoặc bên này tiêu diệt bên kia; hoặc hai bên hợp tác với nhau để chung sống. Cách thứ hai là cách tốt (…)Điều đó tôi đã từng nói và từng viết trongPháp Việt đề huề’. Sự hợp tác Pháp Việt phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa hai dân tộc. Không có bình đẳng thì không có hợp tác… [10].
Do thế, „đề huề trong í tôi và đề huề trong í họ (Pháp) xa nhau như trời với vực[11]. Lại nữa, Phan cũng cho hay, sở dĩ phải thay đổi lập trường, là vì dân trí và dân khí của dân ta như thế thì làm sao mà thắng Pháp mau được. Tài liệu trên cho thấy Phan giờ đây ngã hẳn theo chủ trương, mà mười hai năm trước Chu Trinh đã thúc giục ông đi theo. Chu Trinh muốn „đề huề“ để dùng Pháp diệt phong kiến, duy tân xã hội, mở mang dân trí hầu chuẩn bị đất gieo trồng Dân chủ. Bội Châu giờ đây cũng mang những í nghĩ như vậy, nhưng lí do có thể nói quan trọng nhất khiến ông thay đổi chủ trương là cái viễn kiến về một cuộc thế chiến thứ hai giữa Nhật và các nước phương Tây, trong đó chắc chắn Nhật sẽ thắng Pháp ở Đông dương và Việt-nam sẽ rơi vào ách thống trị còn tàn bạo hơn của Nhật.
Hay phải chăng Đảng Cộng Sản VN đã chẳng khai thác được Phan, vì cái cộng sản của ông không đúng với giáo điều của họ?
Trong phần D. Chương trình hành động 4 giai đoạn của CT, Phan đề cập tới các „nguyên tắc xã hội chủ nghĩa“ và „nguyên lí xã hội chủ nghĩa của Đảng“. Và sau khi giải phóng đất nước (giai đoạn I) và thiết lập một „Tân Việt Nam“ dựa trên một hiến pháp mới cùng các hệ thống thuế, kinh tế hữu hiệu và một chính sách giáo dục cộng đồng (giai đoạn II), con thuyền VNQDĐ sẽ đưa nước vào giai đoạn III, thực hiện các „nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa“.
Xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa được Phan hiểu như thế nào?
Chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa muốn cho tất cả loài người ai ai cũng được tự do và hạnh phúc. Mục đích của chủ nghĩa xã hội tóm tắt chỉ có bấy nhiêu mà thôi (…)
Giải thích chật lại một chút, thời bao nhiêu cơ quan sinh sản đều nhóm góp lại làm của chung; những cái gì loài người cần phải nhờ cậy nó cho đời sống được sung sướng vui vẻ đều bình quân san sẻ ra cho nhau. Không có một người nào bạo mạnh mà ngồi không, lại không có một người nào cướp bóc lợi ích của kẻ khác. Đó là xã hội chủ nghĩa[12].
Một cách cụ thể, „nguyên tắc cộng sản“ của Phan gồm hai nhiệm vụ:

- Về kinh tế:
Nâng cao đời sống và phúc lợi cho mọi người. Với nông dân, nhà nước mua - chứ không tịch thu[13] - đất đai rồi chia đều cho họ. Với công nhân, nhà nước bảo đảm hạnh phúc xã hội của họ bằng cách ấn định giờ làm việc phù hợp, ấn định đồng lương tối thiểu và lương phải đi đôi với việc làm, huấn nghệ, phát triển các loại công việc lao động tập thể, mở các viện chăm sóc người hết tuổi lao động hoặc tật bệnh…
- Về xã hội chính trị:
Đưa mọi dân mọi nước tiến tới „đồng nhân“, „đại đồng“. Đây là hai í niệm thuần tuý đông phương, được Khổng-tử triển khai trong Kinh Dịch (quẻ Đồng nhân) và sách Lễ Kí, thiên Lệ vận (nói về Đại đồng). Đồng nhân, có thể nói, thuộc lãnh vực quốc gia: Mọi người trong một quốc gia coi nhau như anh chị em, đau cái đau chung, chia sẻ niềm vui, nỗi cực của nhau. Xét rộng ra là Đại đồng: Mọi dân tộc đối xử với nhau như anh em; ở thời đại đồng, biên giới quốc gia, chủng tộc, tôn giáo không còn nữa.
Phan dành cả một tiết sau hết của Xã Hội Chủ Nghĩa khai triển một đoạn trong thiên Lệ Vấn sách Lễ Kí để vẽ lên bức tranh đại đồng, mà cũng là bức tranh thời kì cuối cùng của xã hội chủ nghĩa. Theo đó:
Khi đạo lí to lớn đã lưu hành khắp thế giới rồi, thì cả thiên hạ là một; những người đạo đức nhất, tài giỏi nhất được cử ra uỷ thác các công việc lớn; người già trở thành cha mẹ chung, được chăm sóc chung; trẻ con là con chung, được nuôi nấng cho tới trưởng thành; người cường tráng đều có công ăn việc làm; người tật bệnh, côi quả đều được chăm sóc; trai có phận, gái có chồng; của cải không ai giữ riêng, mà đem ra phân phối dùng chung cho mọi người; người có sức làm theo sức, hưởng theo nhu cầu; trộm cướp như vậy không còn đất đứng; lúc đó nhà nhà không cần cửa đóng then cài; cả thế giới là một nhà [14].
(Đại đạo chi hành giả, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, thị cố nhân bất độc thân kí thân giả, bất độc tử kì tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trướng, quan quả cô độc, tàn tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu quy, hoá ố kì khí ư địa giả, bất tất kì tàng ư kỉ, lục ố kì bất xuất ư thân giả, bất tất kì vị kỉ dụng, thị cố mưu bế, nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc, nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bể, thi vị đại đồng).

Đó là tất cả „chủ nghĩa cộng sản“ của Phan. Trở đi trở lại cũng chẳng gì ngoài những suy tư đông phương. Tiêu đích thiên đàng cộng sản hay đại đồng, như vậy, đã có. Thế còn phương tiện? Làm sao để đi tới đó? Đây là điểm khác biệt bản lề giữa Phan (và cả Tôn) với các môn đồ chính thống (hay chân chính) của Marx.
Người cộng sản chân chính sử dụng hai con thuyền Chuyên chính vô sảnđấu tranh giai cấp để đi tới bến. Hai con thuyền này chẳng thấy xuất hiện đâu cả trong CT, mặc dù về mặt lí thuyết, Phan hiểu rất rõ hai nội dung vô cùng quan trọng của chủ thuyết này, như hai câu trong bài Mừng Cơ Hội cho thấy phần nào:
Cuộc đấu tranh giai cấp đã rành rành
Duy vô sản đấu tranh cùng hữu sản.
Tác giả J. Unselt[15] cho rằng nhờ Phan suốt đời quanh quẩn ở các nước Á đông, nên dòng suy tư vẫn không vượt ra ngoài khuôn khổ đông phương; vì Phan không tiếp cận được với xã hội âu mĩ nên đã không dứt khoát hơn với chủ nghĩa cộng sản như Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông.
Phần đầu của lí luận có lí, phần hai không hẳn. Li Ta Chao chưa sang Âu châu mà lại là người xác tín hơn ai hết vào đấu tranh giai cấp; Tôn Trung Sơn, trái lại, sống ở Âu Mĩ, có cơ hội nếm mùi hậu quả của chế độ tư bản âu châu, thì lại bác bỏ chuyện đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Tôn thiết tha với chủ nghĩa xã hội, nhưng càng đi sâu vào, ông càng nhận ra những hạn chế và khuyết điểm, lại càng nghi ngờ hiệu lực của nó. Tôn là người hiểu rõ hoàn cảnh xã hội của các nước Âu Mĩ và của Tàu; cái hiểu của ông sâu rộng, nên ông biết nhận định và chắt lọc những gì phù hợp.
Phan cũng đồng một quan điểm về xã hội chủ nghĩa như Tôn. Ông cổ xuý mục tiêu đại đồng cao cả của chủ nghĩa, nhưng về mặt thực hành, ông bác bỏ đấu tranh giai cấp, là vì, như ông phát biểu sau này với phóng viên báo L’ Effort (1938):
Hô hào giai cấp đấu tranh ở xứ này là một việc cực ngu! Những người thức thời không bao giờ làm như thế. Thế nào là „tư bản“? một người có 5, 10 mẫu ruộng, một anh chủ tiệm may mà gọi là tư bản ư? Cứ xem bản tổng kê ở các nước khác, thì đã có người An-nam nào đáng gọi là một nhà tư bản chưa? Tôi đã nói ở nước này chưa có sự phân biệt rõ ràng của hai giai cấp tư bản và lao động: Người An-nam chúng ta đều là hạng người mất quyền, hạng người mất nước cả. Cùng một tai nạn, đã không chung sức để tuỳ theo cảnh ngộ mà lần hồi thu phục lại những quyền đã mất, để gầy dựng lại nền tảng quốc gia, lại còn đi kiếm cách tương tàn tương phấn, làm giảm mất lực lượng tranh đấu, thật là một điều thất sách![16]
Còn vô sản chuyên chính? Phan hiểu nó trước hết là chuyện xẩy ra ở cấp vĩ mô, giữa các dân tộc trên thế giới. Đó là việc „liên hiệp cả thảy lao động các nước, mà không phải chỉ là một nước nào“(…),“liên hiệp cả toàn thế giới lại (…), dắt díu cả thảy giai cấp mình, tiến lên chiếm lấy địa vị giai cấp tư bản“. [17] Nghĩa là không có chuyện „lao công chuyên chính“ trong một quốc gia.
Giữa hai nhà cách mạng, Tôn và Phan, có điểm đồng về mặt nhận thức xã hội chủ nghĩa. Cả hai cùng thích cái chủ trương giải phóng dân nghèo và tạo công bình xã hội, cùng tin rằng thế giới sẽ nhờ thực thi „tam dân“ mà đi tới „đại đồng“ (mà cả hai cũng gọi là cộng sản). Nhưng điểm dị giữa hai người: Tôn xuất thân từ giới trưởng giả, mang trong mình lí tưởng dân chủ trưởng giả, và tổ chức cách mạng của ông cũng chỉ chú trọng tới tầng lớp trí thức, trưởng giả (VNQDĐ do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng nặng đường hướng như họ Tôn); Phan là một nho sĩ xuất thân từ thôn dân, sống nơi thôn quê, nên cảm với nông dân. Thành ra lí tưởng đấu tranh của ông luôn hướng về đại khối quần chúng bình dân.
Như trên đã nói, quyết định chọn lựa của Phan - và cả của Tôn -, khi đứng trước một chủ thuyết tưởng rằng sẽ mang lại một giải đáp cho đất nước, đã nói lên cái Tâm và cái Trí của họ. Cái Trí cao rộng với đầy í thức và cái Tâm bao dung thương dân tộc. Khác hẳn với sự chọn lựa ‚nhắm mắt và hẹp hòi’ (Hoàng Văn Chí gọi là ‚giáo điều’ [18]) của những Nguyễn Tất Thành, Li Ta Chao, Mao Trạch Đông, Kim Nhật-thành, Pôn-pốt.
Như vậy, dưới con mắt của Nguyễn Ái Quốc, thứ „Xã hội chủ nghĩa“ hay „Cộng sản“ do PBC chủ trương là một thứ chủ nghĩa cực kì phản động, hoàn toàn chống lại thứ Cộng sản giáo điều mà Quốc đã được truyền thụ và đi theo.
Và như thế, giờ đây, chúng ta đã có câu trả lời cho cái thắc mắc nêu lên đầu bài, vì sao „ông Nguyễn Ái Quốc … đã nhiều lần nhắc tôi thay đổi“.
Và đây có lẽ cũng là lí do sâu xa của việc Quốc quyết định bán Phan.

Augsburg, ngày 26.08.07




[1] Jörgen Unselt, Die Nationalistische und Marxistische Ideologie im Spätwerk von Phan Boi Chau, Wiesbaden 1980, ghi chú 386.
[2] Xem Phan Bội Châu, Tự Phán, Hoa-kì 1987, trang 203 tt.
[3] Như trên, trang 206.
[4] Jörgen Unselt, sđd, ghi chú 385.
[5] Trong đại hội thành lập Đảng Cộng Sản Trung-hoa tại Thượng-hải (01.07.) 1921 chỉ có 13 đại biểu tham dự.
[6] Xã Hội Chủ Nghĩa, Toàn Tập, Tập 4, trang 144 t
[7] Để biết thêm, có thể đọc Wolfgang Franke, Das Jahrhundert der Chinesischen Revolution 1851-1949. 2. Aufl., München, Wien 1980.
[8] Lúc đầu Đảng Cộng sản Trung-hoa không chịu thống hợp vào QDĐ. Nhưng đại diện đệ tam quốc tế là Maring ra lệnh phải thống hợp.  Lí do Nga hi sinh đàn em, là vì họ cần liên minh với Tàu để cản Nhật. Họ chấp nhận đi với Tôn sau khi bế tắc trong các cuộc nói chuyện với giới quân phiệt Tàu cầm quyền.
[9] Phải Thi Hành Chủ Nghĩa Pháp Việt Đề Huề, Toàn Tập, Tập 4, trang 365 t
[10] Trả lời phỏng vấn báo Annam về „Pháp - Việt đề huề“, Toàn Tập, Tập 4, trang 31.
[11] Phan Bội Châu, Tự Phán, sđd, trang 203.
[12] Xã Hội Chủ Nghĩa, trong PBC Toàn Tập, Tập 4, trang 134.
[13]Chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa rất hợp nhân đạo, tất phải có một cách xử trí cho cực kì công bằng, nếu bách đoạt tiền tài của nhà giàu mà san sẻ ra cho nhà đói, thế thời ra làm rối loạn xã hội, mà không phải là cải lương xã hộiChủ Nghĩa Xã Hội, đã dẫn, trang 135
[14] Xem Xã Hội Chủ Nghĩa, dẫn trên, trang 179t.
[15] Xem J. Unselt, Die Nationalistische und Marxistische Ideologie… sđd; và Sun Yat Sen in the Perspective of Phan Boi Chau´s Vietnamese National Revolutionary Movement, sđd.
[16] Vấn Đề Giai Cấp Đấu Tranh, trong Toàn Tập, Tập 4, trang 368tt.
[17] Xã Hội Chủ Nghĩa, đã dẫn, trang 154t.
[18] Đọc Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan, Cành Nam xuất bản, USA, 1990